tin tức

① Không đạt được cảm giác xúc giác mong muốn: Độ mềm của lớp hoàn thiện mềm thay đổi tùy theo yêu cầu của khách hàng, chẳng hạn như độ mềm, độ mịn, độ xốp, độ mềm, độ nhờn, độ khô, v.v. Chất làm mềm khác nhau được lựa chọn theo các phong cách khác nhau. Trong màng mềm, có nhiều cấu trúc màng mềm làm mềm khác nhau, với mức độ mềm, độ xốp, độ mịn, độ ngả vàng khác nhau và ảnh hưởng đến khả năng thấm nước của vải; trong dầu silicon, các đặc tính của dầu silicon biến tính với các gen biến tính khác nhau cũng khác nhau, chẳng hạn như dầu silicon amino, dầu silicon hydroxyl, dầu silicon biến tính epoxy, dầu silicon biến tính carboxyl, v.v.

 

② Đổi màu và ố vàng: Thường do sự hiện diện của nhóm amino trong một số màng mềm có cấu trúc và dầu silicon amino. Trong màng mềm, màng mềm cationic mềm mại và có cảm giác cầm nắm tốt. Nó dễ dàng bám dính trên vải, nhưng dễ bị ố vàng và đổi màu, ảnh hưởng đến tính ưa nước. Nếu màng mềm cationic được biến đổi thành bột dầu mềm, hiện tượng ố vàng sẽ giảm đáng kể và tính ưa nước cũng được cải thiện. Ví dụ, bằng cách kết hợp màng mềm cationic với dầu silicon ưa nước hoặc chất hoàn thiện ưa nước, tính ưa nước của nó sẽ được cải thiện.

 

Phim anion hoặc không ion không dễ bị ố vàng, một số phim không bị ố vàng và không ảnh hưởng đến tính ưa nước.

 

Dầu silicon amino là loại dầu silicon được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay, nhưng nhóm amino có thể gây ra hiện tượng đổi màu và ố vàng. Chỉ số amoniac càng cao thì hiện tượng ố vàng càng nghiêm trọng. Thay vào đó, nên sử dụng dầu silicon amino có độ ố vàng thấp hoặc dầu silicon biến tính polyether, epoxy ít bị ố vàng hơn.

 

Ngoài ra, các chất hoạt động bề mặt cation như 1227, 1831 và 1631 đôi khi được sử dụng làm chất nhũ hóa trong quá trình trùng hợp kem dưỡng da, điều này cũng sẽ gây ra hiện tượng ố vàng.

 

Việc sử dụng các chất nhũ hóa khác nhau trong quá trình nhũ hóa dầu silicon sẽ dẫn đến "hiệu ứng tách màu" khác nhau, có thể gây ra hiện tượng tách màu trong các điều kiện khác nhau và tạo ra màu nhạt hơn, vốn đã được coi là sự thay đổi màu.

 

③ Độ ưa nước của vải giảm thường do vấn đề về cấu trúc màng mềm được sử dụng, thiếu gen hấp thụ nước sau khi hình thành màng dầu silicon, cũng như do các trung tâm hấp thụ nước như nhóm hydroxyl trên sợi cellulose, nhóm carboxyl và nhóm amino trên len bị đóng lại, dẫn đến giảm khả năng hấp thụ nước. Nên lựa chọn màng mềm anion và không ion, cũng như các loại dầu silicon ưa nước càng nhiều càng tốt.

 

④ Đốm đen: Nguyên nhân chính là do vết dầu trên vải không được loại bỏ hoàn toàn trong quá trình xử lý trước và màu của vết dầu trở nên sẫm hơn trong quá trình nhuộm; Hoặc có quá nhiều bọt trong bể nhuộm và hỗn hợp bọt và áo len lạ mắt, thuốc nhuộm, v.v. bị ố trên vải; Hoặc dầu nổi của chất chống tạo bọt gây ra các đốm dầu sẫm màu; Hoặc các chất giống như hắc ín trong thùng nhuộm bám vào vải; Hoặc thuốc nhuộm kết tụ thành các đốm màu sẫm trong các điều kiện khác nhau; Hoặc do ion canxi và magiê quá nhiều trong nước, liên kết với thuốc nhuộm và bám vào vải. Cần thực hiện xử lý có mục tiêu, chẳng hạn như thêm chất tẩy dầu mỡ để tinh chế trong quá trình xử lý trước, sử dụng chất nhuộm ít bọt và không tạo bọt, chọn chất chống tạo bọt không dễ nổi dầu, thêm chất tạo phức để cải thiện chất lượng nước, thêm chất hòa tan và phân tán để ngăn thuốc nhuộm kết tụ và sử dụng chất tẩy rửa để làm sạch bể kịp thời.

⑤ Các đốm màu nhạt: Nguyên nhân chính là do xử lý sơ bộ không đồng đều, có một số vùng hiệu ứng tóc kém, dẫn đến một số vùng bị loại bỏ thuốc nhuộm, hoặc có chứa chất loại bỏ thuốc nhuộm, hoặc có xà phòng canxi, xà phòng magiê, v.v. trên vải trong quá trình xử lý sơ bộ hoặc độ bóng lụa không đồng đều, hoặc sấy bán thành phẩm không đều, hoặc các hạt rắn như bột nguyên tố không hòa tan và tro soda trên bề mặt vải, hoặc nước nhỏ giọt trước khi sấy thuốc nhuộm, hoặc các đốm phụ do xử lý sau như làm mềm thuốc nhuộm. Tương tự, cần xử lý có mục tiêu, chẳng hạn như tăng cường xử lý sơ bộ. Khi lựa chọn phụ gia xử lý sơ bộ, cần tránh hình thành xà phòng canxi magiê và xử lý sơ bộ phải đồng đều và kỹ lưỡng (liên quan đến việc lựa chọn chất tinh chế, chất thẩm thấu, chất phân tán chelat, chất thẩm thấu nuôi tằm, v.v.). Bột nguyên minh, tro soda, v.v. phải được xử lý tốt và đưa vào bể chứa, đồng thời phải tăng cường công tác quản lý sản xuất.

hình ảnh 1

6. Vết kiềm: Nguyên nhân chủ yếu là do quá trình loại bỏ kiềm sau khi xử lý sơ bộ (như tẩy trắng, đánh bóng lụa) không sạch hoặc không đồng đều, dẫn đến hình thành vết kiềm. Do đó, cần tăng cường quá trình loại bỏ kiềm trong quá trình xử lý sơ bộ.

⑦ Vết bẩn do chất làm mềm:

Có một số lý do có thể xảy ra như sau:

a. Chất liệu màng phim kém mềm, có chất làm mềm hình khối bám vào vải;

b. Có quá nhiều bọt sau khi màng tan chảy. Khi vải ra khỏi thùng, vải bị dính bọt làm mềm vải;

c. Chất lượng nước kém, độ cứng cao, tạp chất trong nước kết hợp với chất làm mềm và bám trên vải. Một số nhà máy thậm chí còn sử dụng natri hexametaphosphate hoặc phèn chua để xử lý nước, tạo thành bông cặn chứa tạp chất trong nước và để lại vết bẩn trên bề mặt vải sau khi vào bể xử lý làm mềm;

d. Vải được phủ các chất anion, kết hợp với chất làm mềm cation tạo thành vết bẩn trong quá trình làm mềm, hoặc vải được phủ chất kiềm, khiến các chất làm mềm kết tụ lại;

e. Cấu trúc của chất làm mềm vải rất đa dạng và một số có thể khiến chúng chuyển từ trạng thái nhũ tương sang dạng chất giống như xỉ và bám vào vải ở nhiệt độ cao hơn.

f. Có chất làm mềm giống như hắc ín và các chất khác trong xi lanh rơi ra và bám vào vải.

⑧ Vết bẩn dầu silicon: Đây là loại vết bẩn khó xử lý nhất, chủ yếu là do:

a. Độ pH của vải không trung tính, đặc biệt là khi vải chứa kiềm, khiến dầu silicon bị phân hủy và nổi lên;

b. Chất lượng nước của bể xử lý quá kém và độ cứng quá cao. Dầu silicon dễ bị dầu nổi trong nước có độ cứng lớn hơn 150PPM;

c. Các vấn đề về chất lượng của dầu silicon bao gồm nhũ hóa kém (lựa chọn chất nhũ hóa kém, quy trình nhũ hóa kém, các hạt nhũ hóa lớn, v.v.) và khả năng chống cắt kém (chủ yếu là do chất lượng của chính dầu silicon, hệ thống nhũ hóa, loại dầu silicon, quy trình tổng hợp dầu silicon, v.v.).

Bạn có thể chọn loại dầu silicon có khả năng chống chịu lực cắt, chất điện phân và thay đổi pH, nhưng cần chú ý đến mục đích sử dụng và môi trường sử dụng. Bạn cũng có thể cân nhắc chọn loại dầu silicon ưa nước.

⑨ Làm mờ kém:

Độ xù lông kém liên quan chặt chẽ đến hoạt động của máy xù lông (chẳng hạn như kiểm soát độ căng, tốc độ con lăn xù lông, v.v.). Đối với quá trình xù lông, khi sử dụng chất làm mềm vải (thường được gọi là sáp), việc kiểm soát hệ số ma sát động và tĩnh của vải là rất quan trọng. Do đó, việc pha chế chất làm mềm vải xù lông là rất quan trọng. Nếu chất làm mềm vải không được sử dụng đúng cách, nó có thể trực tiếp gây ra hiện tượng xù lông kém, thậm chí dẫn đến rách hoặc thay đổi chiều rộng cửa.

 
#Nhà sản xuất hóa chất#
#Phụ gia dệt may#
#Hóa chất dệt may#
#chất làm mềm silicone#
#nhà sản xuất silicone#


Thời gian đăng: 01-11-2024